so do tu duy cam nhan nhan vat tu hai

Cảm nhận về nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

Học tập
Cảm nhận về nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng

    Cảm nhận về nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng để làm sáng tỏ hình ảnh Từ Hải với tính cách anh hùng, chí khí phi thường cùng khát vọng tự do mãnh liệt.

Hướng dẫn làm bài cảm nhận nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng

1. Phân tích đề

– Yêu cầu của đề bài: nêu cảm nhận về nhân vật Từ Hải.

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : những từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong đoạn trích Chí khí anh hùng trích Truyện Kiều của Nguyễn Du, đặc biệt những đoạn có nhân vật Từ Hải.

Bạn đang xem : Cảm nhận về nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng
– Phương pháp lập luận chính : nghiên cứu và phân tích, cảm nhận .

2. Hệ thống vấn đề

Luận điểm 1: Từ Hải – người anh hùng có chí khí phi thường

Luận điểm 2: Từ Hải với lí tưởng cao đẹp – khao khát về một sự nghiệp lớn

Luận điểm 3: Từ Hải ý thức rõ ràng về tài năng, nghĩa vụ, lí tưởng của mình và quyết tâm thực hiện lí tưởng đó.

3. Sơ đồ tư duy

so do tu duy cam nhan nhan vat tu hai

Sơ đồ tư duy cảm nhận nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng

4. Lập dàn ý chi tiết cụ thể

a) Mở bài

– Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm, đoạn trích
+ Nguyễn Du – đại thi hào dân tộc bản địa, danh nhân văn hóa quốc tế .
+ Truyện Kiều là đỉnh điểm thơ văn Nguyễn Du, là siêu phẩm của nền văn học Nước Ta, thể hiện cái nhìn thâm thúy về thân phận con người, nhất là người phụ nữ trong xã hội phong kiến .

+ Đoạn trích “Chí khí anh hùng” cho ta thấy rõ tính cách nhân vật Từ Hải, lí tưởng, khát vọng của Nguyễn Du về một xã hội công bằng.

– Khái quát về nhân vật : Từ Hải là một anh hùng cái thế, đầu đội trời chân đạp đất, có chí lớn và có nghị lực để đạt được mục tiêu cao đẹp của bản thân .

b) Thân bài: Cảm nhận về nhân vật Từ Hải

* Luận điểm 1: Từ Hải – người anh hùng có chí khí phi thường

– Tầm vóc vĩ đại cũng như khát vọng, chí khí lớn lao : “ động lòng bốn phương ”, “ trời bể mênh mang ”, “ bốn bể ” …
+ “ Trượng phu ” : chỉ người đàn ông có chí khí, bậc anh hùng -> Cách nói bộc lộ thái độ trân trọng với những vị anh hùng của Nguyễn Du, dựng lên hình dáng bệ vệ, oai nghiêm, đĩnh đạc của một tướng võ .
+ “ Thoắt ” : tính từ chỉ sự dứt khoát, mau lẹ, nhất quyết, nhanh gọn trong khoảnh khắc giật mình -> Cách xử sự dứt khoát, khác thường của Từ Hải .
+ “ Động lòng bốn phương ” : chỉ chí khí anh hùng tung hoành thiên hạ, lí tưởng anh hùng thời đại, không bị ràng buộc bởi vợ con, mái ấm gia đình mà ở bốn phương trời, ở khoảng trống to lớn, quyết mưu cầu sự nghiệp khác thường .
– Khát vọng lên đường, tư thế từ tốn, tự tin, đĩnh đạc của người anh hùng :
+ Tư thế :

  • “Thanh gươm yên ngựa” : một mình, một gươm, một ngựa.
  • “Thẳng rong”: đi liền một mạch.

-> Tư thế oai phong, hào hùng sánh ngang với trời đất .

  • “Trời bể mênh mang”: không gian vũ trụ rộng lớn.

-> Cảm hứng ngoài hành tinh, con người ngoài hành tinh với kích cỡ khác thường, khoảng trống bát ngát, nâng cao tầm vóc người anh hùng .
=> Nguyễn Du đặt nhân vật sánh ngang với khoảng trống trời bể mênh mang bộc lộ một tư thế đẹp, sự nhất quyết, dứt khoát, ra đi hiên ngang, độc lập, không vướng bận của Từ Hải .
+ Hình ảnh so sánh “ gió mây bằng đã đến kì dặm khơi ” càng tô đậm sức mạnh và bản lĩnh khác thường của Từ Hải .
=> Từ Hải không phải là một con người của những đam mê thường thì, mà là con người của khát vọng, công danh sự nghiệp .

* Luận điểm 2: Từ Hải với lí tưởng cao đẹp – khao khát về một sự nghiệp lớn

– Người anh hùng nêu lên lí tưởng của mình :
+ “ Mười vạn tinh binh ”
+ “ Tiếng chiêng dậy đất ”
+ “ Bóng tinh rợp đường ”
=> Hình ảnh hào hùng có cả âm thanh, sắc tố bộc lộ niềm tin sắt đá, sự quyết tâm, khát vọng lớn lao, cao quý về một sự nghiệp lẫy lừng của Từ Hải .
– Mục đích ra đi : làm cho rõ mặt khác thường -> chứng tỏ năng lực hơn người, bản lĩnh, ý chí phi phàm .
=> Từ Hải là một trang đàn ông tràn trề tự tin : tin vào kĩ năng, sức mạnh của bản thân, tin vào tương lai, oai phong bản lĩnh với lí tưởng cao quý, ý chí, tham vọng lớn lao .

* Luận điểm 3: Từ Hải ý thức rõ ràng về tài năng, nghĩa vụ, lí tưởng của mình và quyết tâm thực hiện lí tưởng đó

– Từ đã biết vượt qua những níu kéo của tình cảm cá thể riêng tư .
+ Hành động : “ Quyết lời ”, “ Dứt áo ra đi ” -> thái độ, cử chỉ, hành vi dứt khoát, không hề chần chừ, không để tình cảm bịn rịn làm lung lạc và cản bước ý chí của người anh hùng .
+ “ Gió mây bằng đã … đến kì dặm khơi ” : Bút pháp lí tưởng hóa đã cực tả hình dáng tựa như cánh chim bằng cất mình bay thẳng vào muôn trùng dặm khơi của người anh hùng .
– Cuộc chia tay Từ Hải – Thúy Kiều khác hẳn với cuộc chia tay khác :
+ Thời điểm Từ Hải ra đi lập nên sự nghiệp lớn cũng chính là lúc đời sống lứa đôi với Thúy Kiều mới đang khởi đầu và vô cùng mặn nồng niềm hạnh phúc
+ Lí do ra đi : “ Động lòng bốn phương ”, khát khao tung hoành
+ Tư thế ra đi hiên ngang, dũng mãnh, phóng khoáng, đi liền một mạch, không lưu luyến, bịn rịn .
-> Từ Hải ra đi không chỉ hướng đến sự nghiệp của một bậc anh hùng mà còn hướng đến khát vọng niềm hạnh phúc khác thường của “ trai anh hùng với gái thuyền quyên ” .

* Đặc sắc nghệ thuật miêu tả, khắc họa nhân vật

– Bút pháp lí tưởng hóa
– Bút pháp miêu tả, khắc họa nhân vật qua hình dáng, hành vi, lời nói
– Bút pháp ước lệ tượng trưng với những danh từ, động từ, tính từ giàu giá trị diễn đạt .
– Ngôn ngữ đối thoại trực tiếp .

c) Kết bài: Nêu cảm nhận về nhân vật

– Từ Hải là một vị anh hùng đầy tự tin, bản lĩnh, có chí khí khác thường, có lí tưởng sự nghiệp lớn, rạch ròi giữa sự nghiệp và tình cảm .
– Từ Hải là hiện thân cho giấc mơ tự do, công lí của Nguyễn Du .

Trên đây là chi tiết mẫu dàn ý cảm nhận về nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng do THPT Sóc Trăng tổng hợp và biên soạn giúp em hệ thống lại những ý chính cần triển khai cho bài văn của mình. Ngoài ra, các em có thể tham khảo một số bài văn mẫu dưới đây để mở rộng vốn từ cũng như cách trình bày cho bài văn mình sắp viết.

Hai bài văn đạt điểm cao cảm nhận về nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng

Cảm nhận về Từ Hải mẫu số 1:

Qua ngòi bút của Nguyễn Du, Từ Hải xuất hiện trong tác phẩm, trước hết là một anh hùng cái thế, đầu đội trời chân đạp đất. Khi cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, là vì việc nghĩa, là vì trọng Kiều như một tri kỉ. Nhưng khi kết duyên cùng Kiều, Từ thực sự là một người đa tình. Song dẫu đa tình, Từ không quên mình là một tráng sĩ. Trong xã hội phong kiến, đã làm thân nam nhi phải có chí vẫy vùng giữa đất trời cao rộng. Từ Hải là một bậc anh hùng có chí lớn và có nghị lực để đạt được mục đích cao đẹp của bản thân. Chính vì thế, tuy khi đang sống với Kiều những ngày tháng thực sự êm đềm, hạnh phúc nhưng Từ không quên chí hướng của bản thân. Đương nồng nàn hạnh phúc, chợt “động lòng bốn phương”, thế là toàn bộ tâm trí hướng về “trời bể mênh mang”, với “thanh gươm yên ngựa” lên đường đi thẳng.
Không gian trong hai câu thứ ba và thứ tư (trời bể mênh mang, con đường thẳng) đã thể hiện rõ chí khí anh hùng của Từ Hải.

Tác giả dựng lên hình ảnh “ Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong ” rồi mới để cho Từ Hải và Thuý Kiều nói lời tiễn biệt. Liệu có gì phi lôgíc không ? Không, vì hai chữ “ thẳng rong ” có người lý giải là “ vội lời ”, chứ không phải lên đường đi thẳng rồi mới nói thì phi lí. Vậy hoàn toàn có thể tưởng tượng, Từ Hải lên yên ngựa rồi mới nói những lời chia biệt với Thuý Kiều. Và, hoàn toàn có thể chứng minh và khẳng định cuộc chia biệt này khác hẳn hai lần trước khi Kiều từ biệt Kim Trọng và Thúc Sinh. Kiều tiễn biệt Kim Trọng là tiễn biệt tình nhân về quê hộ tang chú, có sự nhớ nhung của một người đang yêu mối tình đầu say đắm mà phải xa cách. Khi chia tay Thúc Sinh để chàng về quê xin phép Hoạn Thư cho Kiều được làm vợ lẽ, hy vọng gặp lại rất mong manh vì cả hai đều biết tính Hoạn Thư, do đó gặp lại được là rất khó khăn vất vả. Chia tay Từ Hải là chia tay người anh hùng để chàng thoả chí vẫy vùng bốn biển. Do vậy, đặc thù ba cuộc chia biệt là khác hẳn nhau .
Lời Từ Hải nói với Kiều lúc chia tay bộc lộ rõ nét tính cách nhân vật. Thứ nhất, Từ Hải là người có chí khí khác thường. Khi chia tay, thấy Kiều nói :
Nàng rằng : “ Phận gái chữ tòng ,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi ” .
Từ Hải đã đáp lại rằng :

Từ rằng : “Tâm phúc tương tri,

Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình ” .
Trong lời đáp ấy bao hàm lời dặn dò và niềm tin mà Từ Hải gửi gắm nơi Thuý Kiều. Chàng vừa mong Kiều hiểu mình, đã là tri kỉ thì san sẻ mọi điều trong đời sống, vừa động viên, tin yêu Kiều sẽ vượt qua sự bịn rịn của một nữ nhi thường tình để làm vợ một người anh hùng. Chàng muốn lập công, có được sự nghiệp vẻ vang rồi đón Kiều về nhà chồng trong danh dự :
Bao giờ mười vạn tinh binh ,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường .
Làm cho rõ mặt khác thường ,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia ” .
Quả là lời chia biệt của một người anh hùng có chí lớn, không bịn rịn một cách yếu ớt như Thúc Sinh khi chia tay Kiều. Sự nghiệp anh hùng so với Từ Hải là ý nghĩa của sự sống. Thêm nữa, chàng nghĩ có làm được như vậy mới xứng danh với sự gửi gắm niềm tin, với sự trông cậy của người mẫu .
Thứ hai, Từ Hải là người rất tự tin trong đời sống :
Đành lòng chờ đó ít lâu ,
Chầy chăng là một năm sau vội gì !

Từ ý nghĩ, đến dáng vẻ, hành động và lời nói của Từ Hải trong lúc chia biệt đều thể hiện Từ là người rất tự tin trong cuộc sống. Chàng tin rằng chỉ trong khoảng một năm chàng sẽ lập công trở về với cả một cơ đồ lớn.
Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn từ Hán Việt và ngôn ngữ bình dân, dùng nhiều hình ảnh ước lệ và sử dụng điển cố, điển tích. Đặc biệt, nhân vật Từ Hải được Nguyễn Du tái tạo theo khuynh hướng lí tưởng hoá. Mọi ngôn từ, hình ảnh và cách miêu tả, Nguyễn Du đều sử dụng rất phù hợp với khuynh hướng này.

Về từ ngữ, tác giả dùng từ trượng phu, đây là lần duy nhất tác giả dùng từ này và chỉ dùng cho nhân vật Từ Hải. Trượng phu nghĩa là người đàn ông có chí khí lớn. Thứ hai là từ thoắt trong cặp câu :
Nửa năm hương lửa đương nồng ,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương .
Nếu là người không có chí khí, không có bản lĩnh thì trong lúc niềm hạnh phúc vợ chồng đang nồng ấm, người ta dễ quên những việc khác. Nhưng Từ Hải thì khác, ngay khi đang niềm hạnh phúc, chàng “ thoắt ” nhớ đến mục tiêu, chí hướng của đời mình. Tất nhiên chí khí đó tương thích thực chất của Từ, thêm nữa, Từ nghĩ triển khai được chí lớn thì xứng danh với niềm tin yêu và trân trọng mà Thuý Kiều dành cho mình. Cụm từ động lòng bốn phương theo Tản Đà là “ động bụng nghĩ đến bốn phương ” cho thấy Từ Hải “ không phải là người một nhà, một họ, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương ” ( Hoài Thanh ). Hai chữ dứt áo trong Quyết lời dứt áo ra đi bộc lộ được phong thái can đảm và mạnh mẽ, khác thường của đấng trượng phu trong lúc chia biệt .
Về hình ảnh, “ Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi ” là một hình ảnh so sánh thật đẹp tươi và đầy ý nghĩa. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao, bay xa ngoài biển lớn. Không chỉ thế, trong câu thơ còn miêu tả được tâm trạng của con người khi được thoả chí tung hoành “ miêu tả một cách khoái trá giây lát con người khác thường rời khỏi nơi tiễn biệt ”. Nói thế không có nghĩa là Từ Hải không buồn khi xa Thuý Kiều mà chỉ chứng minh và khẳng định rõ hơn chí khí của nhân vật. Hình ảnh : “ Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong ” cho thấy chàng lên ngựa rồi mới nói lời tiễn biệt, điều đó diễn đạt được cái cốt cách khác thường của chàng, của một đấng trượng phu trong xã hội phong kiến .
Về lời miêu tả và ngôn từ đối thoại cũng có những nét đặc biệt quan trọng. Kiều biết Từ Hải ra đi trong tình cảnh “ bốn bể không nhà ” nhưng vẫn nguyện đi theo. Chữ “ tòng ” không chỉ giản đơn như trong sách vở của Nho giáo rằng phận nữ nhi phải “ xuất giá tòng phu ” mà còn bao hàm ý thức sẻ chia trách nhiệm, đồng lòng tiếp sức cho Từ khi Từ gặp khó khăn vất vả trong đời sống. Từ Hải nói rằng sao Kiều chưa thoát khỏi thói nữ nhi thường tình không có ý chê Kiều nặng nề mà chỉ là mong mỏi Kiều cứng rắn hơn để làm vợ một người anh hùng. Từ nói ngày về sẽ có 10 vạn tinh binh, Kiều tin cậy Từ Hải. Điều đó càng chứng tỏ hai người quả là tâm đầu ý hợp, tri kỉ, tri âm .
Đoạn trích ngợi ca chí khí anh hùng của nhân vật Từ Hải, một lý trí khác thường của bậc trượng phu và chứng minh và khẳng định lại một lần nữa tình cảm của Thuý Kiều và Từ Hải là tình tri kỉ, tri âm chứ không chỉ đơn thuần là tình nghĩa vợ chồng .
Xem thêm : Phân tích nhân vật Từ Hải trong đoạn trích Chí khí anh hùng

Cảm nhận về Từ Hải mẫu số 2:

Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải là ba nhân vật đã gắn bó với số phận và đời sống tình cảm của Thúy Kiều. Mối tình Kim – Kiều là mối tình đầu tuyệt đẹp giữa “ Người quốc sắc, kẻ thiên tài ” đã nặng tình thề nguyền ” Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương ”. Mối tình giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều là quan hệ “ Trước còn trăng gió sau ra đá vàng ”. Từ Hải với Thúy Kiều đã gắn bó với nhau bằng mối tình tri kỷ giữa “ trai anh hùng, gái thuyền quyên ”. Những nhân vật ấy đã được thi hào Nguyễn Du biểu lộ một cách tuyệt đẹp, làm cho cảm hứng nhân văn lung linh tỏa sáng trên những trang thơ “ Truyện Kiều ” .
Đọc đoạn thơ “ Kiều gặp Từ Hải ” qua nghệ thuật và thẩm mỹ tả người của một ngòi bút thiên tài, qua nhân vật Từ Hải ta cảm nhận được tham vọng về tự do và công lý trong xã hội phong kiến .
Lúc bấy giờ Kiều đang sống ở Châu Thai trong tay Bạc Bà, Bạc Hạnh :
“ Thoắt buôn về, thoắt bán đi ,
Mây trôi bèo nổi thiếu gì là nơi ! ”
Trong cảnh ngộ ấy, “ khách biên đình ”, nơi biên ải xa xôi đã đến với Kiều. Đó là một đêm mùa thu “ gió mát, trăng thanh ”. Hai chữ “ bỗng đâu ” nói lên sự giật mình, bất thần :
“ Lầu thâu gió mát, trăng thanh ,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi. ”
Không phải là một văn nhân với tiếng “ nhạc vàng ”, với “ cờ pha màu áo nhuộm non da trời ” Cũng không phải là người “ trăm nghìn đổ một trận cười khi không ”. Mà là “ một đấng anh hùng ” có cốt cách khác thường :
‘ ’ Râu hùm, hàm én, mày ngài ,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao. ”
Những ẩn dụ, những số đo ấy tuy mang đặc thù ước lệ tượng trưng của thi pháp cổ, nhưng với cách ngắt nhịp 2/2/2 ở câu lục và 4/4 ở câu bát, giọng thơ trở nên can đảm và mạnh mẽ đầy ấn tượng về một tướng mạo phi phàm, uy nghi. “ Khách biên đình ” có võ nghệ cao nghều vô địch, có trí dũng “ lược thao gồm tài ”. Đó là một anh hùng xuất chúng :
“ Đường đường một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài. ”
Lai lịch bí hiểm của “ khách ” được hé lộ dần về họ, tên, quê quán, về chí khí “ giang hồ của một khách cung kiếm, sống một cuộc sống tự do :
Đội trời đạp đất ở đời
Họ Từ, tên Hải vốn người Việt Đông
Giang hồ quen thói vẫy vùng ,
Gươm đàn nửa gánh, nước nhà một chèo. ”
Nguyễn Du đã sử dụng 1 số ít từ Hán – Việt như : “ đấng anh hào ”, “ Côn quyển ”, ‘ thao ”, “ giang “ vẫy vùng ” để khắc họa tính cách anh hùng và khát vọng tự do của nhân vật Từ Hải. Các phụ âm “ đ ” trong những từ ngữ như : đường đường ”, “ đội trời, đạp đất ”, “ ở đời ”, “ Việt Đông ”, làm cho giọng thơ vang lên hùng tráng, can đảm và mạnh mẽ. Sau này khi Từ Công đã chết, Thúc Sinh còn nhắc lại đầy ngưỡng mộ :
“ Đại vương tên Hải họ Từ ,
Đánh quen trăm trận, sức dư muôn người .
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên ,
Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng ,
Đại quân dồn đóng cõi đông … ”
Có thể nói, Nguyễn Du đã dùng những từ ngữ, hình ánh trang trọng nhất, giọng thơ hùng tráng nhất, để ca tụng cốt cách khác thường, thói giang hồ tự do, chí khí anh hùng của Từ Hải .
Từ Hải còn là một anh hùng rất đa tình. Buổi gặp gỡ tiên phong có thiếp danh sang trọng và quý phái, nhiều tâm đắc tương tri : “ cùng liếc … cùng ưa ”. Người đẹp đã làm cho đấng anh hào phải xiêu lòng. Cũng là khoảnh khắc “ bắt đầu lưu luyến ” của lứa đôi :
“ Thiếp danh đưa đến lầu hồng ,
Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa. ”
Cuộc đối thoại tại “ lầu hồng ” giữa anh hùng và giai nhân đã làm điển hình nổi bật thêm những nét đẹp trong tâm hồn Từ Hải. Đến “ lầu hồng ” gặp Kiều, Từ Hải không phải vì tình “ trăng gió ” mà là “ tâm phúc tương cờ ” đi tìm “ tri kỷ ”. Vì vậy khi nghe người mẫu nói lên niềm kỳ vọng “ ‘ Tấn Dương được thấy mây rồng có phen ”, nghe Kiều gửi gắm sự trông cậy chở che : “ Rộng thương cỏ nội hoa hèn – Chút thân bèo bọt dám phiền tương lai ” thì Từ Hải “ gật đầu ” sung sướng :
“ Một lời đã biết đến ta ,
Muôn chung nghìn tứ, cũng là có nhau. ”
Đó là một lời hứa như dao chém đá của trang anh hùng nghĩa hiệp. Chẳng cần dùng mưu kế như Thúc Sinh “ rước về hãy tạm dấu nàng một nơi ”, Từ Hải đã chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, thái độ giải quyết và xử lý rất đàng hoàng : ‘ Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn ”. Con người “ giang hồ quen thói vẫy vùng ”, từng “ đánh quen trăm trận ” ấy lại có một tình yêu rất lãng mạn, Từ Hải là ân nhân của Kiều đã làm biến hóa số phận của một gái thanh lâu :
“ Trai anh hùng, gái thuyền quyên ,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng. ”
Qua đoạn thơ “ Kiều gặp Từ Hải ”, ta càng thấy rõ nghệ thuật và thẩm mỹ tả người của Nguyễn Du rất rực rỡ, độc lạ. Thi hào đã dành những câu chữ hay nhất, sang chảnh nhất để khắc họa tính cách anh hùng khác thường, khát vọng tự do và đa tình lãng mạn của nhân vật Từ Hải. Từ giọng điệu đến ngôn từ đều sang trọng và quý phái, cổ kính : nhân vật lộng lẫy sắc tố lịch sử một thời sử thi .

Nhân vật Từ Hải tựa như một ánh hào quang chiếu qua một quãng đời ngắn ngủi của Thúy Kiều, nhưng đã để lại trong lòng người bao ấn tượng tốt đẹp. Chân dung anh hùng Từ Hải là một phương diện tuyệt đẹp về cảm hứng nhân văn của “Truyện Kiều“.

Tham khảo thêm : Văn mẫu 10 cảm nhận đoạn trích Chí khí anh hùng

Các em vừa tham khảo nội dung hướng dẫn cách làm, lập dàn ý và bài văn mẫu cảm nhận về nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng, hy vọng đã phần nào giúp các em trong quá trình làm bài. Chúc các em học tốt môn Văn khi tham khảo văn mẫu lớp 10 tại Doctailieu.com !

[Văn mẫu 10] Cảm nhận về nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng để làm sáng tỏ chí khí phi thường mang tính vũ trụ vừa có tâm hồn khoáng đạt của người anh hùng Từ Hải

Đăng bởi : trung học phổ thông Sóc Trăng
Chuyên mục : Giáo dục đào tạo