articlewriting1 1

3 Các yếu tố ảnh hưởng tới phúc lợi xã hội – Tài liệu text

Học tập
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản vừa đủ của tài liệu tại đây ( 469.83 KB, 94 trang )

1.3.1 Yếu tố kinh tế

Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở vật chất để giải quyết vấn đề phúc lợi xã

hội. Kinh tế tác động đến vấn đề phúc lợi xã hội thông qua hai con đường.

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống

người dân và của cả xã hội. Nhờ đó, con người mới có điều kiện để tích cực

tham gia vào các hoạt động cộng đồng, trong đó có hoạt động phúc lợi xã

hội. Thứ hai, kinh tế tăng trưởng tạo nguồn thu dồi dào cho ngân sách nhà

nước, nhờ đó có thể tăng chi tiêu cho hoạt động phúc lợi xã hội. Chính phủ

các nước thường dành một tỉ lệ nhất định trong tổng thu nhập quốc dân cho

hoạt động này. Sự tăng trưởng kinh tế đồng nghĩa với sự gia tăng trong tổng

thu nhập quốc dân và kéo theo sự gia tăng trong ngân sách dành cho phúc lợi

xã hội. Điều đó có nghĩa là kinh tế càng phát triển, tỉ lệ chi cho phúc lợi xã

hội sẽ càng tăng. Như vậy, tăng trưởng kinh tế là điều kiện và tiền đề cho sự

phát triển của hoạt động phúc lợi xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế tạo nên sự

gia tăng trong khối lượng của cải vật chất mà nhờ đó mới có thể đáp ứng

được nhu cầu ngày càng tăng của xã hội trong lĩnh vực phúc lợi xã hội.

Thực tế cho thấy các nước có nền kinh tế phát triển có hệ thống phúc

lợi xã hội tốt hơn rất nhiều so với các nước có nền kinh tế kém phát triển. Một

tỉ lệ chi nhỏ trong GNP của một nước phát triển cũng lơn hơn rất nhiều lần so

với tỉ lệ chi lớn ở một nước kém phát triển. Có thể nói, kinh tế là yếu tố khách

quan, ảnh hưởng lớn đến phúc lợi xã hội của một quốc gia.

Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế nhanh, thiếu bền vững kết hợp với

những khuyết tật cơ chế thị trường sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực:

khoảng cách giàu nghèo, một bộ phận dân cư do nhiều nguyên nhân sẽ rơi

vào hoàn cảnh cần sự giúp đỡ của xã hội… khi đó các chính sách phúc lợi xã

hội giữ vai trò điều hòa quyền lợi và nghĩa vụ, đóng góp và hưởng thị của các

16

cá nhân, tập thể, cộng đồng, tầng lớp trong xã hội. Nó có nhiệm vụ giải quyết

những nhu cầu liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của con người.

Đồng thời, các chính sách phúc lợi xã hội phải gắn liền với tình hình

kinh tế và quá trình phát triển của đất nước. Việc đề ra các chính sách phúc

lợi thiếu cơ sở thực tiễn hoặc sai lầm có thể kìm hãm sự tăng trưởng, hạn chế

tính năng động, sáng tạo, nhiệt tình của con ngưởi. Như vậy việc thực hiện

chính sách phúc lợi xã hội phù hợp là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng đi đôi với việc giải quyế các vấn đè phúc lợi xã hội sẽ tạo nên sự

cân bằng cần thiết, giúp những người gặp hoàn cảnh bất lợi có cơ hội vươn

lên sinh sống như những người bình thường.

Nói một cách khái quát, sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và giải

quyết các vấn đề phúc lợi xã hội là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu

phát triển con người và công bằng xã hội. Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề cho

phát triển của phúc lợi xã hội và ngược lại, phúc lợi xã hội là nhân tố quan

trọng tác động trở lại, là thước đo của sự công bằng, ổn định của đất nước.

1.3.2 Yếu tố chính trị

Yếu tố chính trị đóng vai trò quyết định trong việc thực hiên chính sách

phúc lợi xã hội. Nhà nước điều tiêt các hoạt động phúc lợi xã hội thông qua

chức năng lập pháp, tư pháp và hành pháp. Trên cơ sở chức năng lập pháp,

nhà nước ban hành các luật về phúc lợi xã hội với mục đích định hướng, điều

chỉnh các hoạt động phúc lợi xã hội. Các luật về phúc lợi xã hội đều được

xây dựng trên các nguyên tắc căn bản của hiến pháp mỗi nước, nhằm đảm

bảo lợi ích của công dân hài hóa với lợi ích của xã hội. Với chức năng tư

pháp, nhà nước thực hiện sự công bằng, bình đẳng trong quá trình thực hiện

các chính sách phúc lợi xã hội để tạo sự công bằng, bình đẳng với mọi công

dân, không phân biệt đối xử. Nhờ chức năng hành pháp, nhà nước ban hành

các văn bản dưới luật, tổ chức bộ máy thực hiện, xây dựng các chương trình,

17

dự án và tài trợ cho các hoạt động phúc lợi xã hội. Trong đó, cán bộ nhà

nước từ trung ương tới địa phương đều đóng vai trò hết sức quan trọng đối

với việc thi hành các chính sách. Như vậy, sự thành công trong lĩnh vực phúc

lợi xã hội phụ thuộc chặt chẽ bởi yếu tố chính trị thông qua các chính sách và

biện pháp của nhà nước.

1.3.3 Yếu tố văn hóa – xã hội

Yếu tố văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội thông qua yếu tố

chính trị và kinh tế. Mỗi xã hội khác nhau có đặc điểm văn hóa, xã hội khác

nhau. Các đặc điểm văn hóa, xã hội ấy ảnh hưởng quan trọng đến cơ cấu và

thể chế chính trị mỗi quốc gia. Các đặc điểm đó ảnh hưởng đến kinh tế thông

qua nhiều cách. Ví dụ, sở thích về thức ăn cũng ảnh hưởng đến việc tạo lập

chính sách sản xuất và tiêu dùng. Hệ thông giá trị niềm tin, ý nghĩa, hiểu biết

cũng đều nằm trong phạm trù văn hóa. Có thể nói văn hóa là bối cảnh mà

trong đó mọi quyết định được đề ra và thực hiện do đó mọi khía cạnh của

nền kinh tế, chính trị của mọi quốc gia đều liên quan đến văn hóa.

Thông qua hệ thống giá trị, niềm tin, hiểu biết…., văn hóa cũng ảnh

hưởng trực tiếp đến hoạt động phúc lợi xã hội. Chẳng hạn, trong lĩnh vực y

tế, một hệ thống y tế được hình thành do các định nghĩa chung về sức khỏe

và bệnh tật, cách chữa tốt nhất, mục tiêu phục hồi và những suy nghĩ, lòng

tin chịu sự chi phối bởi yếu tố văn hóa. Nói cách khác, hệ thống chăm sóc y

tế phản ánh kết quả một loạt những quyết định về điều gì có thể và cần làm

để bảo vệ sức khỏe và điều trị bệnh tật. Tất cả những quyết định ấy đều được

thực hiện trong sự tác động của yếu tố văn hóa. Có thể nói, cách giải quyết

các vấn đề phúc lợi xã hội nói chung hay y tế nói riêng, luôn chịu sự tác động

của yếu tố văn hóa.

18

1.4 Cấu trúc hệ thống phúc lợi xã hội

Thực tế, khi phân tích về cấu trúc của phúc lợi xã hội có nhiều cách tiếp

cận và quan điểm khác nhau. Trong khuôn khổ luận văn này,tác giả sử dụng

quan điểm phân chía cấu trúc của hệ thống phúc lợi xã hội thành hai bộ phần

gồm: bảo hiểm xã hội và bảo trợ (cứu trợ) xã hội.

1.4.1 Bảo hiểm xã hội

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, chưa có tư hưu về tư liệu sản xuất,

mọi người cùng lao động, sản phẩm làm ra phân phối bình quân, nên khi gặp

khó khăn của mỗi người sẽ được cộng đồng san sẻ. Trong xã hội phong kiến,

quan lại dựa theo bổng lọc của vua, dân cư khi gặp khó khăn chờ đợi sự giúp

đỡ của cộng đồng làng xóm. Với những cách này, người gặp khó khăn hoàn

toàn thụ động trông chờ vào sự hảo tâm.

Trong điều kiện kinh tế thị trường xuất hiện việc thuê mướn công nhân.

Ban đầu người chủ chỉ cam kết chi trả công lao động sau phải đảm bảo sự chi

trả cả sự rủi ro nhất định của người lao động. Cuộc đấu tranh giữa người lao

động với chủ để chi trả những khoán rủi ro nhất định của người lao động diễn

ra rộng. Dần dần nhà nước phải can thiệp và điều chỉnh điều này. Toàn bộ

những hoạt động để đề phòng sự rủi ro của người lao động gọi là hệ thống

bảo hiểm xã hội. Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước

Phổ (nay là cộng hòa Liên Bang Đức) dưới thời của thủ tướng Otto von

Bismarck, sau đó được lan dần sang nhiều nước trên thế giới. Theo tổng kết

của ILO (công nước 102 năm 1952 tại Giơnevo), bảo hiểm xã hội bao gồm

chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp,

trợ cấp tuổi giả, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình,

trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất. Các quốc gia khác nhau thường

cũng khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách riêng

từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, tùy thuộc vào khả

19

năng tài chính và khả năng quản lí,…Tuy nhiên các nước ít nhất phải áp dụng

một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp nghề

nghiệp, trợ cấp tàn tật.

Trong các công ước quốc tế, mỗi chế độ bảo hiểm xã hội đều được cụ

thể hóa bằng những điều, những mục vừa cụ thể, vừa mang tính định hướng

để các nước vận dụng. Nếu nhìn nhận một cách khái quát, mỗi chế độ đều

được kết cấu bởi các nội dung sau: mục đích thực hiện chế độ, đối tượng được

bảo hiểm, điều kiện trợ cấp, mức trợ cấp và thời gian trợ cấp.

Ở nước ta, xét về mặt lịch sử bảo hiểm xã hội xuất hiện vào những năm

30 của thế kỷ XX với một số chế độ ốm đau, chế độ hưu trí áp dụng cho đối

tượng phục vụ cho bộ máy của Pháp. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng

hòa ra đời, những quy định về bảo hiểm xã hội được thể hiện trong điều 14

Hiến pháp năm 1946 quy định: “những người công dân già cả hoặc tàn tật,

không làm được việc thì giúp đỡ.” Hiện nay, nước ta thực hiện chế độ bảo

hiểm xã hội ở những nội dụng sau: chế độ bảo hiểm ốm đau và nghỉ dưỡng

sức; chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ bảo hiểm

thai sản; chế độ hưu trí, chế độ bảo hiểm thất nghiệp, chế độ tử tuất.

Như vậy, Bảo hiểm xã hội “là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù

đắp một phần thu nhập của người lao dộng do gặp phải những biến cố làm

giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ

được tập trung từ sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời

góp phần đảm bảo an sinh xã hội.” (Nguyễn Thị Kim Phụng, 2013,tr114).

Dưới góc độ kinh tế: bảo hiểm xã hội là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự đảm

bảo thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảm hoặc

mất khả năng lao động. Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm xã hội là tổng

hợp những quy định của nhà nước, quy định các hình thức đảm bảo điều kiện

20