articlewriting1 1

Sứa lược – Wikipedia tiếng Việt

Học tập

Sứa lược là một ngành nhỏ (danh pháp khoa học: Ctenophora) cùng với ngành Ngành Thích ty bào (Cnidaria) hợp thành nhóm động vật ruột khoang[cần dẫn nguồn] (Coelenterata) trong động vật đối xứng tâm (Radiata).

Claudia Mills ước tính có khoảng chừng 100 – 150 loài được xác nhận. [ 6 ]

Đặc điểm chung[sửa|sửa mã nguồn]

Chúng có một vài đặc thù riêng không liên quan gì đến nhau như :

  • Chỉ sống ở biển, bơi lội tự do hoặc là bò lê trên đáy biển và có đối xứng dạng tỏa tròn.
  • Di chuyển bằng các tấm lược, là tấm hình thành từ nhiều lông bơi.
  • Trên tua bắt mồi có tế bào dính để tấn công và tự vệ.
  • Có nhiều đặc điểm cấu tạo giống với phần còn lại của động vật ruột khoang, tuy nhiên đã thấy xuất hiện dấu hiệu của lá phôi thứ ba và sự đối xứng hai bên. Không có tế bào gai đặc trưng như của phần còn lại (Ngành thích ti).

Nguồn gốc sứa lược[sửa|sửa mã nguồn]

Khi xem xét sứa lược trên quan điểm nguồn gốc và tiến hóa, người ta so sánh chúng với thích ti và nhận thấy chúng có cả những đặc điểm cổ hơn so với thích ti (như có cơ quan chuyển vận dạng lông bơi thường thấy ở một số nhóm đơn bào), một số đặc điểm cao hơn (phân cắt trứng xác định, có mầm mống của lá phôi giữa) và một số đặc điểm riêng (tế bào dính, ấu trùng cydippid) từ đó cho ra một giả thiết cho rằng thích ti và sứa lược vốn có một mối quan hệ họ hàng gần gũi và có thể xuất phát từ một tổ tiên chung.

Đặc biệt, những nhà khoa học đặc biệt quan trọng quan tâm đến nhóm sứa lược bò lê, là nhóm có đối xứng hai bên, có mầm mống lá phôi thứ ba, từ đó hình thành sự phân dị của mặt trên, mặt dưới hay là phần trước phần sau. Ở phần trước khung hình tập trung chuyên sâu những cơ quan cảm xúc, ở phần bụng có những cơ quan hoạt động và thu nhận thức ăn. Những nét tiến hóa này mở ra những năng lực tiến hóa to lớn. Vì thế, 1 số ít nhà nghiên cứu Dự kiến mang lược là tổ tiên chung của toàn bộ những ngành Động vật ba lá phôi .
Do có khung hình mềm nên chưa tìm thấy hóa thạch của nhóm động vật hoang dã này .
Hình dạng chung của sứa lược là hình con quay, đối xứng tỏa tròn qua trục miệng – đối miệng. Trên cực đối miệng là cơ quan đỉnh giữ vai trò làm cơ quan cân đối. Dọc theo thân, khởi đầu từ cực đối miệng là 8 dãy tấm lược xếp hướng về phía cực miệng, trên tấm lược là nhiều lông bơi nhỏ. Đối xứng qua khung hình là 2 tua bắt mồi giống như 2 quai bình, gốc của tua nằm sâu bên trong khung hình. Tua bắt mồi thường rất dài, gấp nhiều lần chiều dài khung hình của sinh vật. Tuy nhiên, cũng có một số ít loài có tua bắt mồi ngắn, thậm chí còn tiêu biến .Trên tua bắt mồi của sứa lược có tế bào dính đặc trưng là collobblaste bắm chặt vào con mồi khi tiến công. Tế bào dính có hình đinh ghim, mũ hình bán cầu có những thùy dính. Có một sợi xoắn, một sợi thẳng nối tế bào dính với mô bì của tua. Khi tua chạm vào con mồi, sợi xoắn duỗi ra, bắn tế bào dính vào khung hình con mồi. Sau khi phóng, tế bào dính không bị hủy mà được tịch thu lại như cũ .

Thành khung hình[sửa|sửa mã nguồn]

Thành cơ thể sứa lược có 2 lớp tế bào và có một tầng keo ở giữa. Trong tầng keo này không có tế bào mô bì cơ như ở Sứa mà lại có tế bào cơ trơn, có khi là những tế bào rất lớn. Người ta đã phát hiện ra ở một số loài như Mnemiopsis leidyi có tế bào cơ trơn dài tới 6 cm. Sự biệt hóa của tế bào này và vị trí của nó trong tầng keo khiến nhiều người coi sứa lược là động vật ba lá phôi.

Một số loài động vật hoang dã nhỏ và phù du như giáp xác chân kiếm hoặc là ấu trùng của một số ít sinh vật biển như cá, tôm, cua … ngoài những còn cả thích ti và sứa lược trưởng thành. Các tua bắt mồi sau khi bắt dính mồi sẽ đưa mồi vào miệng, ở 1 số ít loài thấy Open thêm thùy hoặc tấm miệng tương hỗ cho việc bắt mồi. Hình ảnh sinh vật phù du .
250px Hyperia Hyperia

[[Tập tin: Amphipodredkils.jpg ]] Một con amphipod.

Cơ quan tiêu hóa[sửa|sửa mã nguồn]

Có dạng túi, gần giống như thích ty bào, nhưng phức tạp hơn với nhiều ống. Có hầu và dạ dày. Từ dạ dày có những ống vị nối đến những tua bắt mồi và những nhánh hướng ra ngoài. Thức ăn được tiêu hóa ngoại bào trong hầu rồi tiêu hóa nội bào trong dạ dày .

Hệ thần kinh[sửa|sửa mã nguồn]

Có mạng thần kinh kiểu mạng lưới giống với thích ti tuy nhiên tế bào tập trung chuyên sâu nhiều hơn ở dưới những tấm lược. Ở phía đối miệng, có 4 hạch thần kinh nhỏ ở ngay dưới cơ quan đỉnh. Ở giữa những hạch này là cấu trúc bình thạch tựa lên 4 những chổi cân đối ở 4 hạch, giúp Sứa lược cảm nhận được độ nghiêng của khung hình để lấy lại cân đối .

Hệ sinh dục[sửa|sửa mã nguồn]

Sứa lược là loài động vật hoang dã lưỡng tính, có 2 tuyến sinh dục và cái xếp đối xứng trong từng ống vị dọc và đối xứng qua mặt phẳng dạ dày .

Sinh sản và tăng trưởng[sửa|sửa mã nguồn]

Trứng và tinh trùng qua ống vị ra ngoài, thụ tinh ngoài trong nước ( trừ một vài loại sứa lược dẹp thụ tinh trong ). Trứng phân cắt trọn vẹn, không đều, xác lập. Phôi vị hình thành theo kiểu lõm vào hoặc lan phủ. Lá phôi trong có phần phân hóa thành mầm lá phôi giữa, sau này sẽ tạo thành tầng keo. Trứng nở thành ấu trùng cydippid chưa có tuyến sinh dục tăng trưởng và sẽ biến thái để cho những thành viên trưởng thành .
150px LightRefractsOf comb rows of ctenophore Mertensia ovum CydippidaHiện nay người ta chia ngành sứa lược thành 3 lớp :

  • Lớp Tentaculata: sứa lược có tua, chia thành 4 bộ:
    • Cydippida: Phân bố rộng từ ven biển đến biển khơi, từ vùng cực tới xích đạo, cơ thể hình con quay, tua bắt mồi phát triển.
    • Lobata (Sứa lược thùy): tua bắt mồi chỉ phát triển ở giai đoạn ấu trùng, có thùy miệng và tấm miệng.
    • Cestida (Sứa lược giải): tập trung ở vùng biển nhiệt đới, cơ thể dẹp bên, hình dải.
    • Platyctenida (Sứa lược dẹp): sống ở vùng biển nước nông và vùng cực. Có cả sinh sản vô tính và hữu tính, thụ tinh trong cơ thể. Trong bộ này có nhiều loài bơi hoặc bò trên nền đáy, có cả loài sống bám như Tiafiella tristoma hay ký sinh như Gastrodes sp..
  • Lớp Atentaculata: nhóm khoảng 25 loài sứa lược không tua, chỉ sống ở biển khơi, có thể nuốt chửng mồi nhờ miệng mở rộng hoặc cắt mồi nhờ các lông cứng trong khoang miệng.
  • Scleroctenophora
  • “Động vật học không xương sống” – GS.TSKH Thái Trần Bái
  • “Cổ sinh học” – Tạ Hòa Phương

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]